Trong “Thư Ngỏ” của 36 trí thức ở nước ngoài gửi lãnh đạo Việt Nam ngày 21/8/2011 có đoạn: “Sau chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, nguồn tư liệu do Nhà nước bạch hóa về quan hệ Việt-Trung cho thấy mối quan hệ giữa hai nước không tốt đẹp như nhiều người lầm tưởng.”[1]
Nếu không có chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, dù nguồn tư liệu độc lập có đề cập đến [2], nhân dân Việt Nam khó thể biết được bản chất nghiêm trọng đằng sau mối quan hệ được ví như “môi răng” trong một thời gian dài, điển hình như: “… phản bội Việt Nam ở Hội nghị Geneva năm 1954, ngăn cản Việt Nam thương lượng với Mỹ năm 1968, dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974, phát động chiến tranh biên giới năm 1979, dùng vũ lực đánh chiếm một phần Trường Sa năm 1988.”[3]
Sau một giai đoạn băng giá trong quan hệ giữa hai nước, vào tháng 11/1991, lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc hội đàm và ra Thông cáo chung, trong có đoạn: “Việt Nam và Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện, trên cơ sở 5 nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình.”[4]
Bất cứ ai quan tâm đến an nguy và tương lai Việt Nam không thể không tự hỏi, phải chăng lãnh đạo Trung Quốc từ năm 1991 cho đến ngày nay có một chính sách khác biệt với người tiền nhiệm?
Thực tế cho câu trả lời rất rõ ràng: Lời nói và hành động của Trung Quốc đối với Việt Nam, trước sau như một, có sai lệch 180 độ!
Kể từ khi bình thường hoá quan hệ, bắt đầu vào cuối năm 1991, Trung Quốc tiến hành “từng bước lũng đoạn kinh tế, thu vét tài nguyên, thực hiện mưu đồ đồng hoá, xâm phạm chủ quyền và đối xử tàn bạo đối với ngư dân Việt Nam trên Biển Đông.”[5]
Với chính sách nhất quán, Trung Quốc không ngần ngại sử dụng mưu đồ thâm độc và toan tính tinh vi, như đã thực hiện trong giai đoạn 1949-1979.[6]
Để đối phó, lãnh đạo Việt Nam cần bản lĩnh cao trong giao tiếp với ngoại bang nhằm bảo vệ hữu hiệu quyền lợi đất nước.
Xem lại quan hệ
Thực tế cho thấy có một bộ phận trong giới lãnh đạo không thể hiện điều kiện tối cần thiết này; có những vấn đề trong hơn 20 năm nay đòi hỏi một quá trình “xét lại toàn bộ quan hệ Việt-Trung và chỉnh sửa những quyết định sai lầm trước đây khiến Việt Nam mất cân bằng, lệ thuộc vào mối quan hệ này trên các lãnh vực khác nhau.”[7]
Dưới đây là hai trường hợp cụ thể:
1. Thu vét tài nguyên:
Trong hai năm liền, 2009-2010, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức công khai và mạnh dạn kêu gọi ngưng dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên do các hiểm họa tiềm ẩn trong dự án và sự không thuyết phục trong nghiên cứu khả thi.
Nhà nước Việt Nam vẫn quyết định tiến hành dự án.
Nguyên do chính đến từ một cam kết trong Thông cáo chung Việt Nam - Trung Quốc cuối năm 2001: “Nhân dịp này, hai bên đã ký Hiệp định khung giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi và Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; và nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Đắc Nông.”[8]
Qua cam kết trên, Trung Quốc đạt được mục đích thu vét tài nguyên của Việt Nam bất chấp mọi hiểm họa đe dọa Việt Nam trong nhiều lãnh vực quan trọng: môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng, bản sắc khu vực, và yếu tố kinh tế.
Lãnh đạo Việt Nam năm 2001 đồng ý với đòi hỏi của Trung Quốc bất chấp khuyến cáo trước đấy của Liên Xô và khối Đông Âu không nên khai thác bô-xít ở Tây Nguyên [9] và bất chấp sự thiếu vắng nghiên cứu cần thiết trước khi có cam kết trong Thông cáo chung.
2. Xâm phạm chủ quyền:
Sau cuộc đối thoại chiến lược cấp thứ trưởng giữa hai nước cuối tháng 8 năm 2011, lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam tuyên bố:
“Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam, và Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền.”[10]
Cái gọi là “cam kết” của Trung Quốc trong tuyên bố của lãnh đạo Bộ Quốc phòng hoàn toàn đi ngược lại với chứng cứ lịch sử.
Trong vòng 40 năm qua, Trung Quốc không từ bỏ một cơ hội nào để lấy đất, lấy biển, bất kể diện tích lớn bé, của Việt Nam: Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988, Bản Giốc, Nam Quan, qua Hiệp ước Biên giới năm 1999, v.v.
Lãnh đạo Việt Nam, trong quá khứ, đã nhiều lần lên tiếng tố cáo với cộng đồng quốc tế tham vọng bành trướng của Trung Quốc, và độ chính xác của những tố cáo này đã được kiểm chứng qua nguồn tư liệu độc lập, nên không ai có thể tin tưởng vào cam kết đã bị lịch sử phủ nhận tính chất nghiêm túc của nó.
Quan điểm của Việt Nam
Trước đòi hỏi lãnh hải ngang ngược và hành động vô lối của Trung Quốc trên Biển Đông, cơ quan truyền thông đưa tin Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sẽ viếng thăm chính thức Trung Quốc từ ngày 11-15/10/2011.
Hơn bao giờ hết, lãnh đạo Việt Nam cần xem lại các bài học trong quan hệ Việt Trung; hơn bao giờ hết, nhân dân Việt Nam đòi hỏi lãnh đạo thể hiện bản lĩnh cao, để xứng đáng với hy sinh xương máu của bao thế hệ cha ông và đáp ứng mong đợi của mọi người trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
Hơn bao giờ hết, nhân dân Việt Nam đòi hỏi lãnh đạo thể hiện bản lĩnh cao, để xứng đáng với hy sinh xương máu của bao thế hệ cha ông và đáp ứng mong đợi của mọi người trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước." - Thái Văn Cầu
Lãnh đạo Việt Nam từng tuyên bố, “Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng” hay“… vấn đề chủ quyền biển đảo với bất cứ quốc gia nào cũng thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Nước to, nhỏ cũng đều có nhận thức như vậy.”[11]
Vì thế, vị thế của Việt Nam trong tranh chấp Hoàng Sa - Trường Sa -Biển Đông cần phản ánh rõ rệt các điểm sau:
Về Hoàng Sa: Dù Trung Quốc có thái độ không hợp tác trong giải quyết tranh chấp, do hậu thuẫn mạnh mẽ cho Việt Nam trên cơ sở luật pháp quốc tế và chứng cứ lịch sử, Việt Nam cần một mặt tiếp tục thúc đẩy vấn đề Hoàng Sa với Trung Quốc, mặt kháctranh thủ sớm đưa vấn đề Hoàng Sa ra dư luận và toà án quốc tế.
Ý tưởng để các thế hệ tương lai giải quyết tranh chấp Hoàng Sa mang tính đầu hàng, trốn tránh trách nhiệm. Có lẽ nào đối phó với kẻ “vừa là đồng chí, vừa là anh em” khó khăn hơn, phức tạp hơn là đương đầu với những tên “thực dân”, “đế quốc” sừng sỏ nhất thế giới ? [12]
Về Trường Sa: Nỗ lực đa phương hoá, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và chứng cứ lịch sử, mà Việt Nam đang tiến hành là giải pháp tốt đẹp nhất và cần sự ủng hộ của nhiều nước liên quan.
Về Biển Đông: Do tính chất phi lý trong đòi hỏi “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, nỗ lực tranh thủ các nước liên quan nhằm vô hiệu hoá đòi hỏi “đường lưỡi bò” mà Việt Nam đang tiến hành là giải pháp tốt đẹp nhất.
Trong “Tuyên cáo” của 95 nhân sĩ và trí thức trong nước làm ngày 25/6/2011 có đoạn: “Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân. Vì vậy bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc, của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước ở trong nước cũng như ở ngoài nước nhằm chống lại những hành động ngang ngược gây hấn, xâm lấn của nhà cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam mà bao đời ông cha đã gầy dựng, gìn giữ.”[13]
Cùng với thế giới, Việt Nam đang chứng kiến những đổi thay nhanh chóng trong xã hội do sức lớn mạnh của cuộc cách mạng tin học: Thống kê mới nhất cho thấy hơn 30 triệu người Việt Nam sử dụng internet.[14]
Sự yếu kém trong bản lĩnh của một bộ phận lãnh đạo qua hai trường hợp nêu trên không những có khả năng dẫn đến hệ quả tai hại lâu dài cho Việt Nam mà còn khiến nhân dân cả nước, qua mạng lưới thông tin đa dạng, đa nguồn, đánh mất niềm tin vào hiệu năng của lãnh đạo.
Thông cáo chung Việt Nam – Trung Quốc năm 2011 là cơ hội hy hữu cho lãnh đạo Việt Nam chứng tỏ họ là người có bản lĩnh trong giao tiếp với ngoại bang và chứng tỏ họ là người luôn luôn đặt quyền lợi nhân dân và đất nước trên hết.
Thực hiện được điều này đồng thời giúp lãnh đạo Việt Nam phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để “bảo vệ nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam mà bao đời ông cha đã gầy dựng, gìn giữ.”
Bằng không, như Nguyễn Trãi, hơn 500 năm trước, viết, “Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” hay như Hồ Chí Minh từng nói, “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”.
Khi sử dụng facebook, twitter, internet, v.v., ngày càng phổ biến trong trào lưu tiến bộ chung của khoa học kỹ thuật, không một thế lực nào, dù hung hãn, mạnh bạo đến đâu, có thể mãi mãi ngăn chận lời Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh trở thành hiện thực.
Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một chuyên gia về khoa học không gian, hiện đang sống tại bang California, Hoa Kỳ.
Phụ chú:
1. http://www.viet-studies.info/kinhte/ThuNgo_gui_LanhDaoVN_210811.pdf
2. Xem Francois Joyaux, “La Chine et le reglement du premier conflit d'Indochine (Geneve 1954)”, 1979, Nayan Chanda, “Brother Enemy”, 1986, hay Qiang Zhai, "China and the Vietnam Wars, 1950-1975", 2000.
3. “Thư Ngỏ”
4. http://biengioilanhtho.gov.vn/vie/thongcaochungvietnam--nd-cf5d2b43.aspx
5. “Thư Ngỏ”
6. Xem Bộ Ngoại giao nước CHXHCNVN, “Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua”, hay “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”, 1979
http://hoangsa.org/forum/downloads.php?do=file&id=167
7. “Thư Ngỏ”
8. http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20011203000335&print=yes
9. http://www.viet-studies.info/kinhte/Thu_VNGiap_NTDung.pdf
10. http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/08/viet-nam-khong-bao-gio-nhuong-bo-ve-chu-quyen/
11. http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/371469/Khong-de-bat-cu-ai-xam-lan-bo-coi.html
http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/07/chu-quyen-bien-dao-la-bat-kha-xam-pham/
12.http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/The-gioi/97860/quotvi7879t-nam--trung-hoa-v7915a-la-2737891ng-chi-v7915a-la-anh-em-!quot.htm
13. http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/06/ban-tuyen-cao-ac-biet-cua-gioi-nhan-si.html
14. http://www.baomoi.com/Nguoi-su-dung-Internet-Viet-Nam-vuot-nguong-31-trieu/76/6730571.epi
© BBC
Biểu tình tại Hà Nội ngày 19/06/2011 chống các hành động của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông. - Reuters
Ngày 11/10/2011, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu chuyến công du Trung Quốc. Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh chính quyền hai nước, nhất là Việt Nam, đang cố gắng làm dịu tình hình sau khi quan hệ Việt – Trung đã trải qua nhiều tháng căng thẳng trên vấn đề Biển Đông : Bắc Kinh đã tiến hành một loạt những vụ gây hấn tạo ra các phản ứng gay gắt từ phía Hà Nội.
Trong bài tham luận tại Hội nghị khoa học quốc tế về các vấn đề pháp lý và chính sách tại Biển Đông, tổ chức tại Đài Loan trong hai ngày 07 và 08/10 vừa qua, giáo sư Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales) đã phân tích những diễn biến chính trị và quân sự quan trọng liên quan đến Biển Đông, đặc biệt là trong mối tương quan giữa Trung Quốc với Việt Nam, Philippines và khối ASEAN.
Trong tạp chí hôm nay, RFI sẽ điểm lại các nhận định của giáo sư Thayer về các sức ép của Trung Quốc trên Việt Nam, trong vòng gần một năm nay, cũng như cách ứng phó của Hà Nội trước các hành động càng lúc càng quyết đoán của Bắc Kinh nhằm buộc Việt Nam và các nước tôn trọng các đòi hỏi chủ quyền rộng khắp của Trung Quốc tại Biển Đông.
Nhận xét chung của giáo sư Thayer là một loạt những hành động hung hăng của Trung Quốc trong nửa đầu năm 2011, nổi bật là ba vụ nhắm vào các tàu thăm dò dầu khí ở vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền, đã khiến cho tình hình khu vực căng thẳng hẳn lên và tạo ra các phản ứng cứng rắn từ phia Việt Nam, mà theo giáo sư Thayer đã “phô trương một cách có tính toán” quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Tuy nhiên, từ tháng Bẩy đến nay, tình hình căng thẳng trên Biển Đông bắt đầu dịu bớt. Trung Quốc và Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN rốt cuộc đã đồng ý được trên một bản hướng dẫn thực hiện Tuyên bố năm 2002 về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC, trong lúc các hoạt động ngoại giao được tăng cường đáng kể mà đỉnh cao có lẽ là chuyến công du Trung Quốc của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng từ 11/10 – 15/10/2011. Trước đó, hai bên đã tổ chức một loạt các cuộc tiếp xúc giữa các phái đoàn cấp cao.
Vấn đề đặt ra, theo giáo sư Thayer, là thái độ càng lúc càng quyết đoán của Bắc Kinh trong việc áp đặt các đòi hỏi chủ quyền của họ bên trong đường “lưỡi bò” do chính họ vẽ ra đã trở thành một vấn đề quốc tế, đòi hỏi một giải pháp đa phương chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi song phương mà Trung Quốc chủ trương.
Trung Quốc quyết liệt hơn đối với Việt Nam trong nửa đầu năm 2011
Trong phần phân tích về các hành động quyết đoán của Trung Quốc đối với Việt Nam trong nửa đầu năm 2011, điều được giáo sư Thayer nêu bật là tính chất quyết liệt hơn Bắc Kinh. Ngoài việc áp dụng lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm, lần đầu tiên Trung Quốc đã cho tàu vào bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để cản trở hoạt động thương mại của các tàu thăm dò dầu khí Việt Nam.
Về vấn đề Trung Quốc áp dụng lệnh cấm đánh cá đơn phương tại Biển Đông, từ ngày 16/05 đến ngày 01/08, giáo sư Thayer đặc biệt chú ý đến sự kiện có thể được coi là lệnh này chỉ nhắm vào ngư dân Việt Nam mà thôi. Ông ghi nhận một số lời than phiền của chính quyền địa phương miền Trung Việt Nam, theo đó tàu cá Trung Quốc đã xuất hiện đông đảo rất nhiều trong vùng mà ngư dân Việt Nam thường đánh bắt.
Các chính quyền địa phương Việt Nam cho biết là tàu thuyền đánh cá xuất hiện nhiều hơn tại các vùng biển của Việt Nam với quá khứ. Theo báo Thanh Niên ngày 29/05, lãnh đạo lưc lượng biên phòng tỉnh Phú Yên ghi nhận là "mỗi ngày có khoảng từ 120 đến 150 tàu đánh cá Trung Quốc hoạt động trong vùng biển từ Đà Nẵng đến quần đảo Trường Sa... Trước đây các tàu thuyền đánh cá của Trung Quốc thường vi phạm vùng biển của Việt Nam, nhưng đây là lần đầu tiên có nhiều tàu thuyền như vậy.
Trên một số trường hợp, khối lượng tàu các Trung Quốc đã tăng lên thành 200. Ngư dân Việt Nam đã phải hình thành các nhóm gồm từ 5 đến 10 chiếc tàu thuyền để tự vệ chống lại tàu Trung Quốc thường lớn hơn, và đôi khi sẵn sàng dùng vũ khí để đe dọa ngư dân Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam hiện đang xem xét một đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn để xây dựng khoảng mười chiếc tàu tuần tra ngư nghiệp với tổng chi phí ước tính lên đến 102 triệu đô la.”
Mặc dù ngư dân Việt Nam tuyên bố sẽ thách thức lệnh cấm của Trung Quốc, báo chí Việt Nam đã không loan tin về bất kỳ sự cố lớn nào liên quan đến việc tàu cá Việt Nam bị quấy rối hoặc ngư dân bị bắt giữ.
Chỉ có hai trường hợp ngoại lệ. Ngày 01/06, tàu hải quân Trung Quốc đe dọa sử bắn vào một chiếc tàu Việt Nam đánh bắt cá trong vùng biển gần Trường Sa. Một vụ việc nghiêm trọng hơn xẩy ra ngày 05/07 khi lính hải quân Trung Quốc bị cho là đã đánh đập thuyền trưởng một tàu cá Việt Nam, đe dọa thủy thủ đoàn, và sau đó buộc chiếc tàu rời khỏi vùng biển tranh chấp gần quần đảo Hoàng Sa.
Sách nhiễu tàu thăm dò dầu khí Việt Nam
Tuy nhiên, đối với giáo sư Thayer, sự cố nghiêm trọng nhất là vụ ba chiếc tàu hải giám Trung Quốc ngày 26/05, đã áp sát tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của Việt Nam, hoạt động tại lô 148, trong ba tiếng đồng hồ. Chiếc tàu hải giám Trung Quốc số 84 đã cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02.
Một hôm sau, Việt Nam đã chính thức phản đối với đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam là tàu hải giám Trung Quốc vi phạm luật quốc tế và chủ quyền Việt Nam. Hà Nội cũng đòi Bắc Kinh bồi thường thiệt hại. Tàu Bình Minh 02 sau đó đã trở về cảng để sửa chữa rồi tiếp tục hoạt động thăm dò dầu khí, lần này được tám chiếc tàu đi theo hộ vệ.
Đối với giáo sư Thayer, đây không phải là lần đầu tiên một vụ việc như vậy xẩy ra, nhưng lần này sự cố trở thành nghiêm trọng khác thường.
Đối với giáo sư Thayer, đây không phải là lần đầu tiên một vụ việc như vậy xẩy ra, nhưng lần này sự cố trở thành nghiêm trọng khác thường.
“Một số phương tiện truyền thông đã loan tin sai lạc rằng đây là lần đầu tiên mà tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò Việt Nam. Theo ông Đỗ Văn Hậu, một quan chức cấp cao của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, thì các vụ sách nhiễu đã từng xẩy ra. Báo Financial Times ngày 27/05 đã trích ghi nhận của ông Hậu như sau : "Khi chúng tôi tiến hành khảo sát địa chấn và các hoạt động khoan dò, [Trung Quốc] cho phi cơ bay bên trên để theo dõi các hoạt động của chúng tôi, họ dùng tàu sách nhiễu chúng tôi, và trong một số trường hợp nghiêm trọng, họ đã cắt [thăm dò của chúng tôi ]."
Vào đầu tháng 6, báo chí Việt Nam cũng tiết lộ sự kiện là vào năm 2008, khi Việt Nam tiến hành khảo sát thềm lục địa của mình, tàu của Trung Quốc cũng đã cắt cáp khảo sát của tầu thăm dò Việt Nam... và tiếp tục cản trở Việt Nam tiến hành thăm dò dầu khí ở Biển Đông ..."
Theo giáo sư Thayer, một nguồn tin từ Việt Nam đã giải thích với ông rằng sở dĩ Việt Nam không phản đối sự cố năm 2008, đó là vì khi ấy, tàu khảo sát Việt Nam đang hoạt động bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Trung Quốc trả lời phản đối của Việt Nam với tuyên bố như sau : "Điều mà cơ quan chức năng của Trung Quốc đã làm hoàn toàn là công việc giám sát và thực thi luật biển bình thường trong khu vực thuộc thẩm quyền tài phán của Trung Quốc".
Việt Nam đã phản bác lại ngày 29/05 : “Khu vực Việt Nam tiến hành thăm dò hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam theo công ước luật biển của Liên Hiệp Quốc 1982. Đây hoàn toàn không phải là khu vực tranh chấp, lại càng không thể nói là khu vực “do Trung Quốc quản lý”. Trung Quốc đang cố tình làm dư luận hiểu nhầm khu vực không có tranh chấp thành khu vực tranh chấp”.
Trung Quốc đáp lại như sau : "Hoạt động thực thi pháp luật của các tàu hải giám Trung Quốc đối với tàu Việt Nam hoạt động bất hợp pháp hoàn toàn hợp lý. Chúng tôi kêu gọi Việt Nam ngừng ngay lập tức các hoạt động vi phạm và tránh gây thêm rắc rối".
Đến ngày 9 tháng 6, theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, một sự cố thứ hai đã xẩy ra với tàu khảo sát địa chấn Viking II hoạt động tại lô 136-03 trong vùng lân cận bãi Tư Chính (Vanguard Bank) ở Trường Sa, cũng bị tàu Trung Quốc cắt cáp. Vụ này đã bị bộ ngoại giao Việt Nam coi là “hoàn toàn có chủ ý, được tính toán và chuẩn bị kỹ lưỡng”. Bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam coi đó là một hành vi "có tính hệ thống của phía Trung Quốc, nhằm biến khu vực không có tranh chấp thành khu vực có tranh chấp, thực hiện mục tiêu biến yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc thành hiện thực”…
Trung Quốc bác bỏ cáo buộc của Việt Nam, và tố cáo ngược lại rằng chính tàu vũ trang Việt Nam đã đuổi theo tàu cá của Trung Quốc trong khu vực, và một trong những chiếc tàu Trung Quốc đã vướng vào dây cáp của tàu Viking II.
Cũng theo giáo sư Thayer, còn có tin về một sự cố cắt cáp thứ ba xảy ra vào tháng Sáu nhưng Việt Nam đã quyết định không công khai hóa vụ việc.
Phản ứng của Việt Nam trước các động thái quyết đoán của Trung Quốc
Trong sáu tháng đầu năm 2011, Trung Quốc và Việt Nam đã tổ chức bốn cuộc họp cấp cao. Hai cuộc họp đầu xảy ra trước khi Trung Quốc có những hành động quyết đoán mới tại Biển Đông. Hai cuộc họp sau diễn ra trong không khí căng thẳng gia tăng.
Trong số 4 cuộc họp cấp cao giữa Việt Nam và Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm, giáo sư Thayer đã chú ý đến cuộc gặp thứ tư (04/06) tại Singapore, bên lề cuộc Đối thoại Shangri-la, giữa bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh với đồng nhiệm Trung Quốc Lương Quang Liệt, vài ngày sau sự cố tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp.
Ông Thanh đã bày tỏ mối quan ngại của Việt Nam và tỏ ý hòa dịu khi hy vọng rằng “các sự cố tương tự không tái diễn”. Tướng Lương Quang Liệt cũng khẳng định là Trung Quốc không hề muốn điều tương tự xảy ra trong tương lai, và lưu ý rằng quân đội Trung Quốc không hề can dự vào vụ tàu Bình Minh 02. Tuy nhiên, bốn ngày sau, một vụ cáp cắt thứ hai đã xảy ra.
Về cuộc gặp này, giáo sư Thayer trích dẫn Tân Hoa Xã ngày 04/06, để ghi nhận là các phương tiện truyền thông của Trung Quốc bóp méo phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam khi cho rằng ông Thanh đã đồng ý "giải quyết khác biệt trên Biển Đông thông qua các nỗ lực song phương, và không có bên thứ ba được phép can thiệp vào những nỗ lực đó hoặc sử dụng vấn đề đó để gây tổn hại cho quan hệ song phương”.
Theo giáo sư Thayer, hành động quyết đoán của Bắc Kinh đã thúc đẩy giới lãnh đạo Việt Nam, từ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho đến Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết lên tiếng công khai tuyên bố lập trường kiên quyết bảo vệ chủ quyền đất nước dưới sức ép của công luận trong đó có các cuộc biểu tình chống Trung Quốc của sinh viên và các trí thức tên tuổi.
Tập trận bắn đạn thật
Trong tháng 6, Việt Nam cũng đã phản ứng trước các động thái của Trung Quốc bằng cuộc tập trận bắng đạn thật ngày 13/06 gần đảo Hòn Ông cách bờ biển tỉnh Quảng Nam ở miền trung Việt Nam 40 cây số. Các nguồn tin quân sự Việt Nam cho biết là tên lửa chống hạm cũng đã được bắn đi từ chiến đấu cơ Sukhoi.
Giáo sư Thayer ghi nhận là Bộ Ngoại giao Việt Nam xác định đây là một cuộc tập trận bình thường của hải quân Việt Nam, nhưng tờ Global Times, của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lên tiếng đe dọa Việt Nam ngay lập tức.
Tinh thần dân tộc chống Trung Quốc trỗi dậy ở Việt Nam
Các hành động quyết đoán mới của Trung Quốc đã khơi dậy phản ứng yêu nước trong sinh viên và một các tầng rộng lớn hơn trong cộng đồng người Việt Nam. Qua Facebook và các trang mạng xã hội khác, họ thực hiện một loạt các cuộc biểu tình chống Trung Quốc vào ngày chủ nhật trong khoảng thời gian mười hai tuần. Các cuộc biểu tình bắt đầu vào ngày 05/06 với khoảng 300 người tụ tập gần Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội.
Cùng ngày, một đám đông ước tính từ “gần 1.000” cho đến “hàng ngàn” người tập hợp tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuần lễ sau đó cũng có cả trăm người xuống đường ở cả Hà Nội và TP Hồ Chí Minh với các khẩu hiệu như "Đả đảo Trung Quốc", "Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc về Việt Nam". Từ chủ nhật 19/06, biểu tình chỉ diễn ra ở Hà Nội, còn tại Thành phố Hồ Chí Minh, cảnh sát đã can thiệp để ngăn chặn…
Đặc sứ Việt Nam được cử qua Trung Quốc
Vào giữa năm 2011, đã có những dấu hiệu ngoại giao cho thấy Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu tìm cách giảm căng thẳng phát sinh từ tranh chấp Biển Đông. Ví dụ, hải quân hai nước vẫn tiến hành cuộc tuần tra chung lần thứ 11 ở Vịnh Bắc Bộ vào ngày 19-20/06, và sau cuộc tuần tra tàu Việt Nam đã đến cảng Trạm Giang, Quảng Đông, trong một chuyến ghé cảng Trung Quốc thứ hai từ trước đến nay của hải quân Việt Nam.
Việt Nam cũng đã cử Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đến Bắc Kinh để đàm phán về Biển Đông với đồng nhiệm Trung Quốc. Đáng chú ý là ông Sơn đã được Ủy viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc tiếp kiến.
Theo thông cáo báo chí chung do Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố ngày 25/06, hai bên cam kết giải quyết tranh chấp trên biển một cahcs hòa bình, thông qua đàm phán, nhấn mạnh đến sự cần thiết phải định hướng dư luận và đồng ý dẩy nhanh tiến độ thương thuyết để sớm ký một "Hiệp định về nguyên tắc cơ bản hướng dẫn việc giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc", và thúc đẩy việc thực hiện bản Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC.
Thông qua bản hướng dẫn thực hiện DOC
Theo nhận xét của giáo sư Thayer, ý tưởng về bản hướng dẫn này đã có từ năm 2004, nhưng công việc đúc kết đã không thực hiện được do việc Trung Quốc không chấp nhận cho các nước ASEAN hội ý trước với nhau trước các cuộc họp với Trung Quốc. Đó là nội dung ghi trong điều 2 trong bản dự thảo : “ASEAN sẽ duy trì thông lệ tham khảo ý kiến với nhau trước khi họp với Trung Quốc”.
Bắc Kinh đã phản đối điều này và nhấn mạnh rằng các tranh chấp nên được giải quyết bằng cách tham vấn giữa “các bên có liên can” chứ không phải là với ASEAN. Từ sau cuộc họp đầu tiên vào năm 2005, tiểu ban hỗn hợp ASEAN – Trung Quốc nhằm thảo ra bản hướng dẫn đã không tiến được bước nào trong vòng 6 năm sau đó.
Tuy nhiên, theo giáo sư Thayer, thái độ quyết đoán của Trung Quốc trong việc áp đặt chủ quyền của họ tại Biển Đông trong hai năm 2009 và 2010 đã gây ra phản ứng dữ dội từ phía quốc tế, và Biển Đông trở thành chủ đề quan trọng tại Diễn đàn khu vực ASEAN vào giữa năm 2010, và tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ADMM+ vào tháng 10 cùng năm.
Chính vì bị lép vế trên mặt trận ngoại giao mà Trung Quốc đã tìm cách giảm nhẹ tổn thất và làm sống lại nhóm làm việc hỗn hợp trên bản hướng dẫn thực thi DOC. Hai cuộc họp đã được tổ chức ở Côn Minh (Trung Quốc) vào tháng 12/2011, và Medan (Indonesia) vào tháng 04/2011.
Ở cả hai cuộc họp nói trên, theo ông Thayer, mọi người đều thấy rõ là chính đòi hỏi đàm phán song phương của Trung Quốc để giải quyết tranh chấp Biển Đông là nguyên do là cho bản hướng dẫn không thông qua được. Trung Quốc đặc biệt phản đối điều khoản trong dự thảo cho phép ASEAN hội ý trước khi họp với Trung Quốc.
Qua tháng 7 năm 2011, chuyên viên cao cấp ASEAN tham gia đàm phán đã lặng lẽ bỏ điều khoản gây tranh cãi và đề xuất một bản dự thảo được sửa đổi một cách đáng kể. Ngày 20/07, các ngoại trưởng ASEAN và Trung Quốc cuối cùng đã đạt thỏa thuận về bản hướng dẫn thực hiện DOC, một văn kiện hoàn toàn không có tính chất ràng buộc.
Giáo sư Thayer ghi nhận : Ngay sau khi bản hướng dẫn đã được thông qua, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã tỏ ý hoài nghi về hiệu năng thực thụ của bản hướng dẫn. Quan điểm này cũng được bình luận gia kỳ cựu Barry Wain thừa nhận : “Các chiến lược gia sừng sỏ ở Đông Nam Á đều biết rằng việc áp dụng các hướng dẫn không hề cản được các hành vi ngày càng hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông. Điều duy nhất có thể thực sự hạn chế Trung Quốc là sự hiện diện của Hải quân Mỹ và quan hệ Mỹ-Trung ổn định”.
Biển Đông là một vấn đề quốc tế đòi hỏi giải pháp đa phương
Trong phần kết luận, giáo sư Carl Thayer ghi nhận là thái độ quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông đã trở thành một vấn đề quốc tế phải được giải quyết một cách đa phương giữa tất cả các bên có liên can.
Theo ông, chính áp lực ngoại giao quốc tế đã dẫn đến việc thông qua bản Hướng dẫn thực hiện DOC. Mặc dù ASEAN đã phải lùi bước so với yêu cầu ban đầu, nhưng văn kiện này đã cho phép mọi người lạc quan thận trọng rằng những căng thẳng trong vùng sẽ giảm đi nếu các bên áp dụng các biện pháp đề nghị…
Do việc các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc vẫn còn chưa rõ ràng, và không phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, giáo sư Thayer cho rằng ASEAN và cộng đồng quốc tế, phải tiếp tục gây sức ép về ngoại giao để Trung Quốc giảm bớt các hành động quyết đoán nhằm áp đặt chủ quyền của họ tại Biển Đông.
© RFI
Thủ tướng Đức tiếp đồng nhiệm Nguyễn Tấn Dũng hồi 2008 (DR)
Theo nguồn tin chính phủ Đức, nhân chuyến công du Việt Nam trong hai ngày kể từ ngày 11/10/2011, hai bên sẽ thảo luận về một hiệp ước thương mại song phương. Phía Đức cho biết thêm là bà Merkel sẽ nêu vấn đề nhân quyền với Hà Nội và sẽ tiếp xúc với đại diện xã hội công dân và tôn giáo.
Trên báo chí Việt Nam, có nhiều bài khen ngợi thủ tướng Đức là người « đàn bà thép », một nhà lãnh đạo tài ba nhưng không nói rõ về lý lịch của bà thời tranh đấu tại Đông Đức. RFI Việt ngữ đặt câu hỏi tìm hiểu thêm với ông Vũ Quốc Dụng, tổng thư ký Hiệp Hội Quốc Tế Nhân Quyền tại Đức.
© RFI
Với lời kêu gọi hòa bình, chia sẻ và tương trợ lẫn nhau, Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, đại diện cho tòa thánh Vatican tại khu vực Đông Nam Á đã có buổi gặp gỡ chức sắc một số tôn giáo tại TP HCM chiều 6/10.
Buổi gặp gỡ diễn ra tại Tòa Giám Mục TP HCM với sự tham dự của đại diện một số số tôn giáo khác nhau tại TP HCM như: Tin Lành, Hòa Hảo, Phật giáo, Minh Lý Đạo – Tam Tông Miếu, Cao Đài, Cơ Đốc Phục Lâm…
Hòa Thượng Thích Đạt Đạo, Phó viện trưởng Học Viện Phật Giáo TP HCM cũng như Đạo huynh Huệ Khải, đại diện cho đạo Cao Đài có lời cảm tạ về sự quan tâm sâu sắc của Tổng giám mục cũng như về phía Vatican trong thời gian qua. Mục sư Phạm Đình Nhẫn, đại diện Hiệp hội Thông công Tin Lành Việt Nam chia sẻ: ông đánh giá cao về chuyến viếng thăm lần này của Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, đánh dấu cho một giai đoạn mới.
Nhân cơ hội này, đại diện Tòa giám mục TP HCM cũng giới thiệu đến Quý khách mời một số hoạt động vừa qua của Ban mục vụ đối thoại liên tôn thuộc Tổng giáo phận. Qua đó, mục đích của ban mục vụ trên được nếu rõ nhằm mục đích kết nối tìm ra những giá trị đẹp ở các tôn giáo khác để phục vụ mọi người. Tập san “Nhịp cầu tâm giao” cũng được ra mắt để hỗ trợ cho mục vụ này.
Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli chia sẻ tại buổi gặp mặt này với điều nhấn mạnh “đối thoại không chỉ là một lựa chọn mà còn là một nhu cầu cần thiết”. Ông đưa ra lời mời gọi cộng đồng các tôn giáo khác nhau vượt qua mọi rào cản để đến hỗ trợ nhau. “Hãy theo đuổi mục đích để làm chứng rằng chúng ta là những người nhân danh Đức Chúa Trời, nhân danh những người ủng hộ hòa bình và cùng chung một gia đình nhân loại”.
Thông báo về sự kiện ngày tôn giáo thế giới 27/10 sẽ diễn ra tại Ý, cũng như dự định về ngày quốc tế bệnh nhân 20/2/2012, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn kêu gọi các tôn giáo cùng tham gia sự kiện này. Dự kiến sự kiện ngày 20/2 tới sẽ được tổ chức như cách đây 7 năm khi nhiều tôn giáo khác nhau cùng ngồi lại cầu nguyện cho những bệnh nhân đang trong hoàn cảnh khó khăn, không có thuốc…
Kết thúc buổi gặp gỡ, đại diện các tôn giáo đều mong muốn có được nhiều dịp để có thể cùng nhau chia sẻ và giúp đỡ nhau trong tương lai.
Một số hình ảnh liên quan:
Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn
Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, đại diện Vatican tại khu vực Đông Nam Á
Đạo huynh Huệ Khải, đại diện đạo Cao Đài
Hòa Thượng Thích Đạt Đạo, Phó viện trưởng Học Viện Phật Giáo TP HCM
Mục sư Phạm Đình Nhẫn, đại diện Hiệp hội Thông Công Tin Lành Việt Nam
Các vị khách mời cùng chụp ảnh lưu niệm
M.H
© Hoithanh.com
Bản đồ Indonesia và Soho, nơi diễn ra vụ tấn công vào nhà thờ Tin lành, nghi là do phần tử đánh bom bị tự sát thực hiện.
Một nhà thờ Tin lành ở tỉnh Java thuộc miền trung Indonesia bị tấn công bởi một vụ đánh bom tình nghi do phần tử tự sát thực hiện, theo lời cảnh sát.
Một phát ngôn nhân cảnh sát nói với các phóng viên rằng chỉ có người bị nghi là phần tử đánh bom đã thiệt mạng, nhưng có ít nhất 15 người khác bị thương trong vụ nổ tại Kepunton, Solo.
Indonesia là quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới, tuy về phương diện chính thức là một nhà nước thế tục.
Các nhóm Hồi giáo cực đoan đã thực hiện một số cuộc tấn công chết người trong vài năm qua.
Các nhân chứng cho biết vụ đánh bom xảy ra khi các giáo dân rời khỏi nhà thờ Bethel Injil Sepuluh sau một khóa lễ Chủ nhật.
Một số nhân chứng cho biết ba người khác đã thiệt mạng, nhưng Trung Tá Djihartono nói với hãng tin AFP rằng chỉ có người bị nghi là phần tử đánh bom đã chết.
"Chúng tôi vẫn đang điều tra xem liệu có những người nào khác thiệt mạng hay không", ông Djihartono nói, và cho biết thêm rằng một đơn vị chống khủng bố đã có mặt tại hiện trường để thu thập chứng cứ.
'Tiếng nổ lớn'
"Tôi nhìn thấy tia lửa phóng ra, gần cửa ra vào, một người đàn ông đã chết trên mặt đất ... Những người xung quanh ông ta dính be bét máu"Nhân chứng nói với Metro TV
Một nhân chứng, Fani, cho biết bà đã nghe thấy tiếng nổ lớn khi rời khỏi nhà thờ.
"Mọi người la hét," bà nói với kênh truyền hình Metro TV. "Tôi nhìn thấy tia lửa phóng ra, gần cửa ra vào, một người đàn ông đã chết trên mặt đất ... Những người xung quanh ông ta dính be bét máu."
Một viên chức bệnh viện, Bambang Sumarsono, cho biết 20 người đã bị thương, ba trong số đó ở tình trạng nghiêm trọng, theo hãng tin AP.
Đ ài phát thanh El Shinta cho biết số trường hợp thương vong đã được đưa đến hai bệnh viện.
Bộ trưởng an ninh Indonesia Djoko Suyanto cho biết không có gì có thể biện minh cho vụ tấn công "vô nhân đạo."
"Nhiệm vụ của tất cả mọi người là phải vượt qua hành động khủng bố này", ông nói.
Danh tính của người đánh bom và động cơ đằng sau vụ tấn công được cho là tự sát hiện chưa rõ.
N hóm chiến binh Hồi giáo Jemaah Islamiah (JI), có liên kết với al-Qaeda, bị cáo buộc đứng sau một loạt các cuộc tấn công tại Indonesia, trong đó có vụ đánh bom ở Bali hồi năm 2002 làm thiệt mạng 202 người.
Nhóm này đã bị suy yếu đáng kể bởi việc nhiều lãnh đạo chủ chốt đã bị bắt giữ hoặc tiêu diệt, nhưng các phẩn tử đánh bom đơn độc vẫn tiếp tục thực hiện các cuộc tấn công.
© BBC
Dù một số người cố gắng giữ cho Lễ tưởng niệm 11/9 không dính dáng gì đến Tôn Giáo nhưng những vị khách mời đặt biệt tại buổi lễ đã hướng lòng về Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Tổng thống Obama và Cựu thị trưởng New York Rudy Giuliani đã đọc Kinh Thánh vào ngày kỉ niệm lần thứ 10 của sự kiện đen tối nhất trong lịch sử nước Mỹ. Cựu tổng thống Bush đọc 1 lá thư được viết bởi Abram Lincoln với nội dung hướng về Thiên Chúa.
Phân đoạn Kinh Thánh Thi Thiên đoạn 46: “1 Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân.2 Vì vậy, chúng tôi chẳng sợ dầu đất bị biến cải, Núi lay động và bị quăng vào lòng biển; 3 Dầu nước biển ầm ầm sôi bọt, Và các núi rúng động vì cớ sự chuyển dậy của nó” đã được Obama chọn đọc trong ngày Lễ này.
Tổng thống Mỹ đến khu vực nghi lễ với phu nhân Michelle Obama, cựu tổng thống George W. Bush, và phu nhân Laura Bush. Cả bốn người đứng gần nhau trong giây phút tĩnh lặng khi họ đến khu vực tưởng niệm.
Tổng thống Obama, cựu tổng thống Bush cùng các phu nhân viếng Đài tưởng niệm 11-9 (Ảnh AFP)
Trước buổi lễ tưởng niệm, một cuộc tranh luận gay gắt đã diễn ra xung quanh quyết định của thị trưởng Michael Bloomberg là không có những người lãnh đạo tôn giáo hay là những người cầu nguyện trong buổi lễ. Thứ sáu tuần trước, Bloomberg nói rằng Lễ kỉ niệm với những bài cầu nguyện và những lãnh đạo tôn giáo sẽ giống như là Chính phủ ép buộc tôn giáo và không tôn trọng mọi người.
Bỏ ngoài tai quyết định của Bloomberg, vẫn có rất nhiều bài cầu nguyện và những bài giảng được rao ra tại buổi lễ.
George W. Bush, vị Tổng thống nước Mỹ vào thời điểm cuộc tấn công khủng bố 11/9 diễn ra cách đây 10 đã đọc là thư được viết bởi Abraham Lincoln vào năm 1864 dành cho người mẹ quá cố, người đã mất 5 đứa con trai trong suốt thời kì nội chiến.
Lincoln kết thúc bức thư bằng “Con cầu nguyện rằng Cha (Đức Chúa Trời) có thể có thể làm dịu bớt nỗi đau mất mác những người thân của mẹ, và để lại cho mẹ chỉ có kí ức yêu thương về người thân và những người đã mất, niềm tự hào trọng thể này xin được dành cho mẹ, người đã hy sinh và trả một giá rất đắt cho sự tự do này”.
Rudy Giuliani, người đã từng là thị trưởng New York vào thời điểm vụ khủng bố, đã đọc Kinh Thánh từ sách Truyền Đạo.
Ông nói: “Điều mà chúng ta cần và cần cho đến bây giờ đã thực hiện được trong 10 năm vừa qua, vẫn còn y nguyên theo thời gian, được bày tỏ cách đúng đắn bằng lời của Đức Chúa Trời và được lưu viết trong sách Truyền Đạo. Sau đó, Giuliani đọc sách Truyền Đạo 3:1-9, bắt đầu: “ Phàm sự gì có thì tiết; mọi việc dưới trời có kỳ định”
Giuliani kết thúc bằng, “Xin Chúa ban phước cho mỗi linh hồn của những nạn nhân, Chúa ban phước cho những thành viên trong gia đình đã chịu đựng sự mất mác, Chúa dẫn dắt chúng con được hiệp một lại với nhau nơi thiên đàng, và xin Chúa ban phước cho đất nước Mỹ”.
Tổng Thống Obama đọc Kinh Thánh tại lễ tưởng niệm (Ảnh: CNN)
Obama đã đọc hết phân đoạn Thi Thiên 46 và kết thúc bằng “ 10 Hãy yên lặng và biết rằng ta là Đức Chúa Trời; Ta sẽ được tôn cao trong các nước, cũng sẽ được tôn cao trên đất.11 Đức Giê-hô-va vạn quân ở cùng chúng tôi; Đức Chúa Trời Gia-cốp là nơi nương náu của chúng tôi.”
Minh Khánh (Theo Christian Post)
© Hoithanh.com






